NHỮNG SUY LUẬN TRƯỚC NGƯỠNG CỬA HUYỀN MÔN (III)

26/02/2019

Thường các vị trong cỏi giới vô hình, có hạnh nguyện giúp đời chỉ mượn xác tá điển hành pháp từ 2 đến 5 năm, rồi trả xác về lại cỏi giới của mình, không thể mượn xác tá điển xuốt đời. Sau khi không còn tá điển, vị thầy trở lại bình thường, có thể còn giử được vài công năng đặc biệt như khai nhãn thấy âm linh, có dự cảm ít nhiều về tương lai v. v… tuy nhiên các pháp thuật trước đây như vẽ bùa, niệm chú, cho thuốc trị bệnh, trục tà, phá ma v. v… không còn thực hiện được nữa. 

Bạn không thể học được pháp thuật từ vị thầy này, vì bùa chú vẽ, niệm trong giai đoạn ứng điển, tá xác độ sanh chỉ có tác dụng trong giai đoạn đó, do điển lực của vị trong cỏi vô hình mà linh nghiệm, không theo lề lối chính qui, không có cách luyện, nên dù bạn học, cũng khó mà vẽ niệm cho giống, lại không sử dụng được vì thiếu linh lực.
Cũng nên lưu ý, có những phái huyền môn, người học cũng tá điển, mặt đổi sắc, miệng nói tiếng lạ khi tác pháp. Tùy môn, tùy phái, có người gọi là tiếng thiêng, có người gọi thần chú, có người gọi là tiếng kinh, có người gọi là tiếng phép, nhưng từ dùng chung trong huyền môn cho thứ tiếng lạ này là tiếng âm. 


Đây là dạng học chính quy, có thầy tổ rỏ ràng, phù chú, ngãi nghệ theo bài bản. Khi nhập đạo do điểm đạo, cơ thể khai mỡ mà nhận được điển của thầy tổ, binh gia trong môn phái. 

Thoáng nhìn bề ngoài cũng giống như người được tá điển do hạp căn, nhưng ngoài việc giống bề ngoài như mặt đổi sắc, miệng đọc tiếng âm, tay bắt ấn, thì những người này ngoài việc mượn điển vẫn phải học bùa, luyện chú cùng các môn khác. Mượn điển chỉ là nhờ tha lực để phụ thêm tự lực có được sau một thời gian luyện pháp.

Những vị thầy thuộc dạng này khi nhận học trò, điểm đạo rồi dạy pháp thuật từ thấp lên cao, bài bản rỏ ràng. Không nên lầm lẫn những vị thầy này với những người hợp căn tá điển.

Nếu bạn gặp những vị thầy, sau khi chuyện giản qua loa, biết được ý muốn tìm thầy học pháp của bạn, vị thầy liền khen bạn có căn cơ tốt, có người độ mạng, theo thầy học đạo sẽ giỏi giang hơn người, thì bạn nên suy nghĩ kỹ. Một vị thầy thật thụ, sẽ không khen bạn có căn tốt (hoặc chê căn cơ bạn xấu) trong lần gặp gỡ đầu tiên và ngay cả những lần gặp gỡ sau đó.

Nếu bạn gặp những vị thầy, đang lúc chuyện giảng, chợt ngưng ngang, rồi ra vẽ quan trọng, huyền bí nói với bạn là thầy vừa thấy thần, tiên, thánh đi ngang qua cửa nhà thầy. Bạn nên cẩn thận, có thể vị thầy này là người huyền môn thứ thiệt, nhưng vì luyện công quá độ, hay vì lý do nào đó sinh ra ảo giác, hoang tưởng. E rằng sau khi bạn bái sư, thầy chưa kịp truyền nghề đã tẩu hỏa nhập ma. Hoặc đây chỉ là chiêu thức câu học trò của thầy… dởm.

Nếu gặp thầy chào hàng, vừa gặp bạn đã trổ 1, 2 ngón nghề như bỏ hạt bầu vào thao nước, liền mọc lên dây cho ra 1 trái bầu. Để cần câu vào thao nước, nhấp nhấp vài cái, kéo lên một con cá lóc. Lấy bầu nấu canh cá cho bạn ăn thử, thì rõ ràng là món canh cá lóc nấu bầu. Chắc bạn sẽ thích ý muốn bái thầy học pháp ngay. Xin nhớ đây chỉ là những phép biểu diễn, không biết có dùng được mỗi ngày để khỏi phải tốn tiền chợ, hay lâu lâu mới dùng được một lần. Hoặc ở đây thầy trồng ra trái bầu, câu được con cá, thì ngoài chợ có người mất bầu, mất cá. Hoặc thầy phải bỏ tiền túi ra mua bầu, cá, để sẵn sau nhà trước khi thực hiện phép.


Chúng ta cũng có thể phần nào nhận biết được thầy thật, thầy giả qua hình tướng bên ngoài. 


Nếu gặp ”thầy” cố tình để râu tóc, cho ra dáng già dặn. Ăn mặc khác thường. Đạo tràng bày vẽ kiểu cách. Mọi thứ đậm nét phô trương, nặng màu trình diễn, thì bạn nên cẩn thận. Người thầy thật thụ không cần phô trương, không cần chứng tỏ mình là thầy. Vàng thật thì không sợ lửa, thầy thật thì không cần tự chứng minh mình là thầy làm chi. 

Ngược lại, ngày nay thường thấy những vị thầy thật thụ bề ngoài rất bình thường, sống tìm ẩn trong đời, lẫn lộn với người bình thường. 

Có lẽ chúng ta đã bước vào một thời đại mới, thời đại của những người thầy hòa lẩn trong đời thường, bề ngoài như người bình thường, sống và làm việc như người bình thường.

Các vị đạo trưởng tu luyện trên núi cao, trong rừng vắng vẫn còn đó, nhưng hiếm hoi. Có lẽ họ là thế hệ cuối cùng của những người tu luyện nơi chốn hoang sơ. Ngày nay cùng với nhịp phát triển xả hội, đô thị hóa các nơi, rừng núi được khai hoang, biến dần thành khu dân sinh, du lịch, không còn là nơi chốn yên tịnh cho việc thanh tu, luyện đạo nữa.

Cũng từ hình dáng bên ngoài, nếu bạn gặp thầy tự xưng hay giỏi, bùa chú ngãi nghệ các thứ đều linh nghiệm, trên đời khó có người hơn thầy, mà cặp mắt lờ đờ, thần sắc u ám, thì bạn nên cẩn thận. Người thầy huyền môn, qua việc luyện các pháp, quán bùa, niệm chú, điển lực, nguyên khí mạnh mẽ hơn người thường, nên thần sắc lộ ra trên gương mặt. Dể nhận biết nhất là cặp mắt có thần, ngời sáng, sắc mặt tương đối tươi tốt. Dù thầy đã già, mắt mũi yếu kém, muốn nhìn rõ người, đọc rõ chữ phải mang kính cận thị, diễn thị, nhưng đôi mắt vẫn có thần, chứ không lờ đờ, mờ đục như người già cả bình thường. 

Cũng có thầy mắt lộ thần, nhưng có vẽ tà dạy, sắc mặt u ám. Đây là dạng thầy có công phu, nhưng có lẽ luyện phép độc, hoặc hành sự bất chánh, nên tà khí nhập thân, lộ ra trên mặt.

Nói chung gần các vị thầy nầy, nếu bạn cảm thấy an tâm, khởi lòng mến nễ, nhưng không e dè, sợ hải, thì đây là người có công phu tốt. 

Ngược lại nếu bạn cảm thấy e dè, lo lắng, thì nên tìm đường rút lui, đây là dạng thầy có công phu cao, nhưng công phu luyện đạo, hành sự chánh hay tà, thật khó nhận biết.


Không có việc gì trên đời này là tuyệt đối, nên ở đây xin được mỡ ngoặc, trước xin phép mượn hình ảnh người đàn chủ diễn đàn Thế Giới Vô Hình của chúng ta, Bác Hùng Sơn, nick SaiGon42 và cũng là thầy Thiện Huệ để làm thí dụ, sau xin với thiệu giới các bạn chưa có dịp biết qua ánh mắt của bác Hùng Sơn, cựu chưởng môn một phái huyền môn.

Các bạn hãy tìm hình của bác Hùng Sơn trên diễn đàn này, nhìn kỹ sẽ thấy cặp mắt có thần khí, nhưng cũng ma mị như mắt… mèo. Nếu chỉ nhìn cặp mắt, dễ đi đến kết luận là thần sắc bác rất… tà. Nhưng nếu nhìn toàn bộ khuôn mặt, sẽ có một cảm giác không tà, cộng thêm nụ cười thì bác đã trở thành một vị thầy rất chánh, một kết hợp khá đặc biệt về thần sắc của một thầy huyền môn.

Có lẽ trong số các bạn còn dùng cách nhận định thầy thật, thầy giả qua tài vật, lễ tổ, con nhang, đệ tử phải lo, khi cần nhờ thầy tác pháp. 


Thầy lấy lễ tổ quá nặng, lễ vật, tiền cúng kiến quá nhiều, thì không phải là thầy chân chính, chưa chắc có công lực cao thâm. 

Thầy chuyên làm phước, cúng kiến đơn giản, lễ tổ sơ sài, tiền tổ tùy hỷ, là thầy chân chính, đạo lực cao thâm. 

Điều này có lẽ chỉ đúng phần nào.

Lễ tổ là luật lệ trong huyền môn. Tùy môn tùy phái, lễ tổ từ không có, hoặc phải có từ chút ít đến nhiều. 

Có phái cấm tuyệt việc nhận lễ vật, tiền tổ. 


Có phái bắt buộc nhận tiền tổ, nhưng có qui định hẳn hòi, như bắt đầu bằng số 3, 5 hay 36 rồi nhân lên. Thời xa xưa, đồng tiền có giá, thì lấy 3 cắc, 5 cắc, 3,6 đồng. Trải qua thời gian dài, giá trị đồng tiền giảm đi thì lấy 3 đồng, 5 đồng, 36 đồng. Cứ thế mà tính dần lên, tùy theo thầy thấy thế nào là hợp với tình hình kinh tế đương thời, hợp lý thế gian, đúng ý thầy tổ.

Có phái cho phép các thầy hưởng lộc tổ để có cái mà sinh sống, không qui định ít nhiều. Các thầy thuộc những phái này tùy tâm, tùy ý mà đặc ra lễ tổ, nhiều ít tùy thầy.


Qua việc lễ tổ có thể phân chia thầy huyền môn ra làm 2 dạng: 

Dạng nghèo ”rớt mùng tơi”, hoặc trung bình đủ sống. Đa số các thầy thuộc dạng này thuộc phái cấm nhận lễ tổ, hoặc thuộc phái được nhận lễ tổ, nhưng có hạnh nguyện độ sanh, giúp đời. 

Thầy không thuộc phái cấm nhận lễ, ngược lại buộc phải có lễ tổ khi hành pháp, nhưng vì hạnh nguyện độ sanh, thì lể tổ sẽ được thầy gia giảm đến mức tối thiểu. khi hành đạo tác pháp, lễ tổ sơ xài, qui định vài món trái cây loại nào cũng được, trừ loại cấm kỵ như trái khế, hoặc loại gai góc không nên dùng cúng kiến, trầu, cau, thuốc lá, nhang đèn cầy. Tổng cộng với thời giá hiện nay có lẽ không hơn 20.000 đồng. 

Có nhiều phép khi cấp, con nhang, đệ tử sau khi xài xong phải trở lại cúng trả lễ, các thầy cũng để tùy hỷ, tùy ý con nhang, đệ tử khấn nguyện cúng trả lễ món gì. Con gà, con vịt, một dĩa trái cây, món nào cũng đều tốt, thầy không đòi hỏi, điều kiện.

Con nhang đệ tử có lòng, khi tới xin phép hoặc cúng trả lễ, để lên bàn tổ 10, 20 hay 50.000 đồng thì thầy nhận. Tiền tổ dùng vào việc nhang đèn, dành dụm cho ngày cúng tổ. Dư thì để dành cà phê cà pháo, chiêu đải học trò, đồng đạo lâu lâu đến thăm. Dư nữa thì dùng vào việc từ thiện. 

Ngày nay còn rất ít nhưng vẫn có thể tìm thấy những thầy khá đặc biệt trong dạng thầy này. Những thầy thấy con nhang, đệ tử nghèo, thì sau khi cúng kiến, làm phép xong, trả tiền tổ lại không nhận. Hoặc thấy con nhang, đệ tử quá nghèo túng thì giúp phần lễ tổ. Lệ không thể bỏ, nên con nhang, đệ tử phải xuất ra vài ngàn mua 1, 2 món trái cây, đồ dùng làm phép, phần còn lại, có món nào trong nhà, thầy góp vào món đó cho đủ lễ.

Có khi người bệnh không được khá giả, từ xa đến trị bệnh dài hạn, không đủ chi phí, thầy lo luôn phần cơm nước, khi hết bệnh ra về, thầy còn giúp thêm cho đủ tiền xe tàu. 


Dạng thầy này khi còn trẻ trung cũng ra đời làm việc kiếm sống, lo cơm áo cho vợ con, nên không có thời gian hành đạo nhiều. Thường hành đạo sau giờ làm việc hoặc ngày nghĩ. Cuộc sống lắm lúc khó khăn, thể xác mệt mõi. Đôi khi vợ con cũng phải bươn trải, phụ thầy kiếm sống.

Khi lớn tuổi, hết sức lao động lại dùng thời gian vào việc tịnh tu. Nếu theo các phái bắc truyền thuộc tiên gia thì tịnh tu theo tiên gia. Nếu theo phái nam truyền hoặc bắc truyền nhưng gốc phật giáo thì tu theo phật đạo. Thuộc phái gốc hồi giáo, ấn giáo thì tịnh tu theo hồi gíao, ấn giáo v. v…

Thời nào cũng có những vị thầy sống bằng nghiệp thầy bà. Phải lo cơm áo cho cả gia đình, nên lễ tổ phải nhiều mới đủ sống. Nếu học thuật cao thâm, làm đâu linh đó, dần dần nỗi tiếng, thân chủ đông đảo, tự nhiên đủ sống hay dư giả chút ít. Nếu phước nghiệp lớn, thân chủ toàn người giàu có, thuộc hàng đại gia thì thầy càng ngày càng khá giả cũng không phải chuyện lạ. 

Có điều nếu các thầy dạng này quen dần với việc nhận lễ tổ nhiều, chỉ làm cho người giàu có, quên dần người nghèo khổ, đủ lễ thì giúp, không đủ lễ thì thôi, biến việc hành pháp thành dịch vụ, ai góp đủ lể, cần phép gì thầy làm phép nấy, vô tư với việc thiện ác, không xét nhân quả, sẽ dần dần xa rời chánh đạo, quên việc hành thiện giúp đời. Đây là dạng thầy ”giàu có”. 

Dạng thầy nầy, người giàu có mới có thể bái sư học pháp. Người trung bình, hoặc nghèo khổ khó có cơ hội được nhận làm học trò.

Việc đời luôn có trường hợp ngoại lệ, có ”thầy” chưa hẳn đã có nghề, vì nghèo khó không biết làm sao kiếm sống, bèn tự xưng tự lập, tự chế ra phép, khôn ngoan khéo léo, tín toán cẩn thận, lấy lễ tổ chút ít, nhưng nhờ gặp thời, nhiều người mê tín dị đoan tìm đến, cũng có thể gom ít thành nhiều. Nhưng chung qui hửu danh vô thực, có tiếng chứ không có nghề, sớm muộn gì cũng bể. 

Cũng có người học thuật chập chờn, hoặc không có học thuật gì, trước chỉ muốn kiếm sống, lấy lễ tổ vừa phài, làm dối, làm đại, sau nhờ phước chủ mai thầy, lấy lể tổ cao lên, cũng có nhiều thân chủ, tự nhiên nỗi tiếng. Khi phước nghiệp hết, mọi việc sẽ bể, thân chủ thưa dần.

Vì vậy nếu nhìn vào lể tổ nhiều ít để nhận dạng thầy thật, thầy giả, phân định đạo lực thấp cao vẫn có thể bị lầm.

Đã tìm được thầy, nhưng dù kết thầy đến đâu đi nữa, bạn nên tới lui ”giao lưu” với thầy nhiều lần trước khi xin bái sư, để có dịp kiểm chứng pháp thuật của thầy là thật, hay thầy chỉ nói vậy thôi, chứ khi trổ nghề, tác pháp, thì… chập chờn vô định, hên xui mai rủi. 

Nếu ai đến thầy cũng chỉ làm một phép, bịnh gì cũng bảo là bị tà nhập, hay trúng thư êm, chữa trị giống nhau, như lấy trứng gà, đèn cầy lăn chỗ đau, bẻ ra sẽ thấy bên trong có lưỡi lam, dây kẻm. Hoặc lấy dao cắt xẻ chổ đau để…trục thư ếm, thì bạn nên cẩn thận. 


Ngày nay người khôn của khó, nhiều người bày lắm chuyện kỳ lạ để kiếm sống, nên suy xét kỹ càng.

Nếu bạn chỉ muốn học pháp thuật, thì khi gặp thầy thật, thầy hay, chỉ lo bái sư xin học, không cần suy nghĩ nhiều. 


Nếu bạn muốn học đạo thuật, để sau này xử người, xử việc đúng tâm thuật, luật lệ huyền môn, đúng đạo làm người. Thì nên xem xét đạo đức của thầy. 

Đa số các phái huyền môn đều có liên quan đến một tôn giáo nào đó. Người thầy huyền môn có tâm đạo, thường tu tâm, dưởng tánh và dạy học trò đạo lý theo tôn giáo có liên quan đến môn phái huyền thuật của mình.

Ở Việt Nam, các thầy thường học theo các phái nam truyền, hay bắc truyền có liên quan đến phật giáo, hoặc các phái bắc truyền có liên quan đến tiên gia.

Nếu tìm thầy học đạo thì nên bái thầy có đạo hạnh cao, dù pháp thuật thầy không cao cường cũng không sao. Học được đạo thuật thì không sợ đi sai đường. Nếu có duyên với các pháp thuật cao thâm, sớm muộn gì cũng gặp dịp đưa đẩy học thêm với thầy khác.

Có thể một số bạn sẽ hơi bị xốc và nghĩ, muốn tìm thầy học đã khó, gặp được thầy, chưa chắc thầy chịu nhận mình, còn ở đó bày đặt chọn thầy. 

Đúng là việc chọn thầy hơi bị xốc, nhưng việc huyền linh không hiển bày trước mắt, nên dễ bị người đời bày chuyện dối gian, cẩn thận vẫn hơn. Hơn nữa người huyền môn ngoài việc tin vào chữ duyên, còn tin luân hồi, nhân quả. Thầy trò là duyên nhiều đời, còn gặp lại nhau trong những kiếp sau. Bái được thầy học huyền môn là thuận duyên hay nghịch duyên thật khó biết trước. 

Thuận duyên thì gặp thầy có tâm đạo, thầy trò tương hội nhiều đời, nhiều kiếp, cùng tiến trên đường đạo để đi đến cưú cánh cuối cùng là giải thoát.

Nghịch duyên, gặp thầy thiếu tâm đạo, thì sự dạy, học của thầy trò trật vuột, e rằng sẽ cùng nhau trôi nỗi trong sáu nẻo luân hồi.


TrungDao (Thế gii vô hình)