HUYỀN THUẬT CỦA MỘT CUỐN SÁCH CŨ

26/02/2019

Huyền thuật của một cuốn sách cũ

(VienDongDaily.Com - 06/01/2014)
Phúc Quỳnh


Bà Alexandra David-Néel
Sáng nay tôi có một chuyện buồn, hơi sên sến, một cảm giác buồn nhè nhẹ, buồn vu vơ, vớ vẩn, vụn vặt, buồn vi vu, vi vút, vân vân và vân vân. Tôi buồn vì phải chia tay một người bạn đã quen trong suốt mấy tuần qua: bà Alexandra David-Néel. Bà đã mất hơn 40 năm trước. Tôi gặp bà không phải trong một giấc mộng chiêm bao, hay trong cõi xuất hồn xuất vía gì cả, mà qua một cuốn sách đã nằm đóng bụi trên kệ từ lâu.

Chắc bạn còn nhớ, nhà chúng tôi từng có cả ngàn cuốn sách. Hơn một năm trước, chúng tôi đã quyết định bỏ bớt sách báo để nhà được rộng thoáng. Sau mấy đợt lược sách, mang chúng đến tặng thư viện, giao cho nhà sách bán giùm hoặc bưng thảy thẳng vào thùng rác, nay chúng tôi còn hơn một trăm tựa, phần lớn là sách văn chương được tạm thời đánh giá có “giá trị,” và sách về tâm linh, tôn giáo. Tuy không còn tha thiết với sách vở, tôi vẫn lưu lại những tác phẩm liên quan đến thế giới vô hình, kinh điển tôn giáo như thầm biết rằng đó là một linh địa cuối cùng tôi cần phải ghé qua trước khi dứt sạch nghiệp dĩ với chữ nghĩa. Và tôi đã không thất vọng một chút nào từ ngày bước vào cõi giới vô biên đầy hấp lực ấy.

Mặc dù rất bận rộn, căng thẳng với công việc ở sở, luôn loay hoay với những chuyện bề bộn cần phải làm ở nhà, dạo gần đây tôi vẫn cố gắng dành mỗi ngày chừng nửa tiếng thật yên tĩnh để đọc sách. Vì thời gian dành cho sách quá ít so với sự mong ước, nên tôi đã mất đâu chừng gần hai tháng mới đọc xong cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” dày không tới 300 trang của bà Alexandra David-Néel.

Cuốn sách này đã nằm trên kệ trong nhà của chúng tôi từ lâu lắm rồi, đâu chừng gần 20 năm chứ không ít. Tôi cứ hứa lần hứa lượt rằng sẽ dành một cuối tuần “thiệt là rảnh rỗi” để đọc nó, đọc cho xong để không còn thắc mắc sách viết gì ở bên trong một bìa mềm với hàng tựa hấp dẫn. Đến khi đọc đến trang cuối cùng, tôi mới nghe khởi lên một cảm giác tiếc nuối trong lòng, chưa muốn dứt khoát từ giã nó, hay đúng hơn là từ giã bà David-Néel và những mẩu chuyện bà đã kể về một xứ Tây Tạng đầy huyền bí mà tác giả từng sống ở đó gần một thế kỷ trước đây. Ở xứ ấy có những đạo sĩ tu luyện ở nghĩa địa, có pháp sư cắn lưỡi xác chết trong một phương pháp tu luyện nghe rất ghê rợn, và có những lá cây mang chữ “Om Mani Padme Hum” nẩy chồi suốt mấy trăm năm.

Bà David-Néel chào đời tại Pháp năm 1868, trưởng thành ở Bỉ trước khi phiêu lưu đến các quốc gia trong hơn nửa thế kỷ, mà phần lớn thời gian là để tầm đạo và có lúc lang thang trên dãy núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn. Bà sống những ngày cuối đời ở quê nhà, từ trần năm 1969, thọ 101 tuổi. Trên bước đường phiêu bạt giang hồ ở Châu Á, theo Wikipedia, người phụ nữ với cá tính mạnh mẽ, thông minh, đầy nghị lực này đã từng ghé qua Việt Nam trong một vai trò ít người biết. Đó là đi theo một gánh hát opera, trình diễn vai chính trong các tuồng “cải lương” Âu Châu Carmen và La Traviata ở Nhà Hát Lớn Hà Nội vào cuối thế kỷ thứ 19.

Cũng may bà David-Néel đã được thế giới biết nhiều hơn qua những tác phẩm viết về Tây Tạng và cõi tâm linh mà bà đã được tiếp cận ở quốc gia nằm trên đỉnh của trái đất. Cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” là tác phẩm nổi tiếng nhất trong hơn 30 sách viết của bà David-Néel, được xuất bản tại Pháp vào năm 1929 với tựa đề “Mystiques et Magiciens du Tibet.” Tựa sách tiếng Việt do Nguyên Phong phóng tác, Làng Văn phát hành năm 1992.

Qua tài lược dịch thoáng đạt của ông Nguyên Phong, một người viết có công chuyển dịch nhiều tác phẩm Phật giáo đến với độc giả Việt Nam sau năm 1975, tôi say mê làm quen và rồi kính phục bà David-Néel ở nhiều khía cạnh. Đáng phục nhất ở nơi bà mà tôi được biết trong cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” là bà đã tĩnh tu trong một hang đá ở miền Sikkim sát biên giới Tây Tạng vào năm 1914. Với lòng thiết tha cầu học đạo với một tu sĩ tự xem mình là “một người dân quê dốt nát,” không có gì để dạy dỗ một phụ nữ Tây Phương đầy kiến thức như bà David-Néel và còn khuyên bà nên đến học ở một tu viện với các bậc lạt ma trưởng lão, bà đã tu trong hang đá trên miền núi tuyết, ngồi thiền quay mặt vào vách đá mỗi ngày trong suốt ba năm trời.

Từ câu chuyện tĩnh tu trong hang đá đó, tôi càng say mê và ráng đọc tiếp trong những ngày hiếm hoi được dịp cầm cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng.” Tôi cũng không ngờ bà David-Néel được gặp Đức Đạt Lạt Ma thứ 13, không chỉ một lần mà đến hai lần, một cơ hội rất hiếm hoi dành cho một phụ nữ từ Âu Châu thời đó. Bà là phụ nữ đầu tiên được tiếp chuyện với Đức Đạt Lạt Ma. Ngày nay Đức Đạt Lạt Ma thứ 14 đi hoằng pháp ở khắp thế giới mà nhiều người như tôi còn không được dịp gặp ngài thì chuyện gặp Đạt Lai Lạt Ma ở Hy Mã Lạp Sơn gần một thế kỷ trước quả thật quá hiếm quí.

Trong một buổi gặp ngắn ngủi, ngài Đạt Lai Lạt Ma chỉ khuyên bà David-Néel hãy học tiếng Tây Tạng nếu muốn biết về văn hóa và tín ngưỡng của người Tây Tạng. Lời khuyên đó như kim chỉ hướng cho bà bước vào một miền đất mà sau đó bà khám phá cả một thế giới tôn giáo rất phong phú, một nền văn minh về tâm linh cao tột đỉnh như núi Tuyết Sơn. Theo bước chân không ngưng nghỉ và bộ óc không thành kiến của bà David-Néel, độc giả được biết về các tu viện giáo dục tâm linh đã có từ mấy trăm năm trước với các cấp bậc học hành như trường đại học ngày nay.

Lý thú hơn nữa là những câu chuyện huyễn hoặc nhưng có thật được ghi chép từ một miền đất mà bà David-Néel từng phải cải trang thành người địa phương trong một hành trình đi xuyên qua Trung Hoa trong thời loạn lạc, từ miền đông qua miền tây để trở về miền cao nguyên Tây Tạng.

Bà đã kể về Kum Bum, một tu viện nổi tiếng nhờ một cây “linh thụ của đại sư Tsong Khapa,” người sáng lập phái tu Mũ Vàng Gelugpa ở Tây Tạng được truyền thừa qua các ngài Đạt Lai Lạt Ma. Cây thiêng ở chùa Kum Bum được gọi linh thụ vì mỗi lá cây đều có câu thần chú “Om Mani Padme Hum” hiện ở bên trên mặt lá. Điều kỳ lạ là cây mọc giữa một miền núi quá lạnh, không có cây xanh nào có thể mọc lên nỗi. Mỗi lá mới đều tiếp tục xuất hiện câu thần chú một cách tự nhiên như có sự gia hộ với một thông điệp phước lành từ cõi thiên, không như mưu kế viết dòng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” mà người Việt từng làm trên lá cây trong một cuộc chiến ở thế kỷ thứ 15. Vào thế kỷ thứ 16, người ta xây tháp bảo vệ cây thần chú. Hai linh mục Abbé Huc và Joseph Gabet từng đến đây truyền đạo và được chứng kiến tận mắt một cây xanh tươi với từng chiếc lá mọc lên với câu thần chú.

Cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” còn có những mẩu chuyện rất ly kỳ đến kinh dị mà đáng lý tôi không nên đọc vào ban đêm trước khi ngủ như từng làm một lần kia. Đêm hôm ấy tôi xem đến chương “Huyền Thuật và Ma Thuật,” rởn tóc gáy khi đọc câu chuyện tu luyện âm binh, sai khiến quỷ nhập tràng của một đạo sĩ bằng cách ôm chặt một cái xác vừa chết trong phòng tối kín mít. Ông đạo sĩ ghì chặt tử thi, truyền hơi ấm vào miệng xác, tập trung tư tưởng để truyền những bài thần chú cho đến khi một vong linh nhập vào xác để sống dậy, và ông phải cắn lưỡi xác này để vong linh không thể điều khiển ngược lại ông.

Trong một câu chuyện khác, tôi nghe bà David-Néel kể về những người luyện “Chod” ở nghĩa địa hoặc ở nơi có nhiều ma quỷ để sám hối bao đời nghiệp ác và diệt trừ bản ngã của họ với sự dâng hiến thân xác cho quỷ ma. Phương pháp này có thể làm cho người ta điên loạn hoặc chết trong sự sợ hãi nếu thiếu đạo lực. Ngoài ra, còn có những pháp sư phù thủy truyền hết quyền năng vào một món vật được gọi là Phurba, thường là một khúc xương hoặc một con dao nhỏ. Pháp sư dùng Phurba để làm chuyện ác. Bà David-Néel kể rằng một con dao Phurba có thể giết người theo sự sai khiến của pháp sư mặc dù ông đã chết, và bà đã có thấy một con dao như vậy nhưng bà không bị nó giết như những người khác có lẽ vì bà cao tay ấn hơn vị pháp sư chủ của con dao.

Sách còn nhiều hiện tượng tâm linh khác mà bà David-Néel đã chứng kiến, như từng thấy một nhà sư bay lướt qua sa mạc bằng khinh công, mặt ngửa lên bầu trời với mắt tập trung vào một điểm, trong khi chân không đụng đất mà thân lướt bay vùn vụt. Bà cũng chứng kiến những đạo sĩ luyện nhiệt công và có thể ngồi trần truồng giữa tuyết lạnh băng giá nhiều ngày mà không bị lạnh.

Viết đến đây thì tôi có điều này muốn “tâm sự” với bạn. Đó là tôi đã hết buồn, cảm thấy vui nữa là đằng khác. Tôi vui vì nhận thấy có sự thay đổi (không biết xảy ra bao nhiêu lần trong đời) trong cái nhìn mới của mình. Tôi từng quyết định dẹp bỏ tủ sách, một “thư viện” mini dưới garage vì không còn hứng thú, tin tưởng ở chữ nghĩa trong mớ sách được gọi là “văn chương” mà tôi đã tích tụ trong gần 40 năm.

Thế nhưng qua mấy cuốn sách viết về đạo, như cuốn “Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng” mới đọc xong, tôi lại khám phá một chân trời mới bắt nguồn từ một thói quen cũ, thói quen cầm một cuốn sách trong tay để đi tìm chân lý. Trong thời đại mà người ta chỉ đọc “sách” trên các trang mạng, xem ebook, tôi nhận thấy đọc một cuốn sách bằng giấy trắng mực đen vẫn tiện hơn, thân mật, gần gũi hơn như được học với “một người dân quê dốt nát.” Có lẽ vậy nên tôi mới cảm thấy chút luyến tiếc khi phải chia tay bà David-Néel, và vui khi biết trên kệ sách vẫn còn những thế giới để cho tôi có thể bước vào trên đường tầm đạo.