CHIẾC CHÌA KHÓA MỞ VÀO THẾ GIỚI TỬ VI ĐẨU SỐ

26/02/2019

CHIẾC CHÌA KHÓA MỞ VÀO THẾ GIỚI TỬ VI ĐẨU SỐ

HỆ THỐNG THUẬT NGỮ

Sao cấp Giáp

- Hệ thống sao Giáp trong Tử Vi Đẩu số gồm tổng cộng 32 ngôi sao, được phân bố vào các cung của mệnh bàn, ảnh hưởng khá lớn đối với vận mệnh của một đời người, đó là: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Kình Dương, Đà La, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Lộc Tồn, Thiên Mã, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ.

- Trong đó, 14 ngôi sao là: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh (thuộc chòm sao Tử Vi); Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân (thuộc chòm sao Thiên Phủ). Tất cả đều là chính tinh, chủ tinh có ảnh hưởng khá lớn đối với vận mệnh. 18 ngôi sao còn lại gồm: 6 cát tinh, 6 sát tinh, 4 hóa tinh và Lộc Tồn, Thiên Mã có sức ảnh hưởng nhất định lên các chính tinh.

- Trong 14 chủ tinh thì 8 sao: Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang được gọi chung là các sao “Sát, Phá, Lang” là các sao Động thái, tượng trưng cho sự khởi đầu, sáng tạo và biến hóa. Trong là số, các sao này thường nằm cùng 1 cung hoặc hội chiếu lẫn nhau. 6 sao còn lại là: Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, Cự Môn, Thái Dương được gọi chung là các sao “Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương”, là các sao Tĩnh thái, tượng trưng cho sự chuẩn bị, tích lũy và kế hoạch cũng thường nằm cùng 1 cung hoặc hội chiếu lẫn nhau.

Sáu cát tinh

- Sáu cát tinh đều có khả năng trợ giúp tốt, nếu gặp được cách cục tốt sẽ như gấm thêm hoa. Nếu gặp phải sao hãm hoặc sát tinh thì như nắng hạn gặp mưa rào, có tác dụng chống đỡ, đề kháng. Sáu cát tinh gồm: Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt (Khôi-Việt thường được gọi là Quý tinh)

Sáu sát tinh

- Sáu sát tinh có sức phá hoại rất lớn đối với vận mệnh, có thể gây tổn hại đến sức mạnh của cát tinh, gồm các sao: Kình Dương, Đà La, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa Không, Địa Kiếp.

Bốn hóa tinh

- Hay còn gọi là 4 sao Hóa gồm: Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ, chúng không có ý nghĩa khi tồn tại độc lập, mà căn cứ vào sự kết hợp với các sao khác như: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Lương, Thái Âm, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc và biến hóa tùy theo tính chất của chủ tinh hoặc sao Giáp.

Độ sáng của các vì sao

- Được chia thành 7 cấp độ:
Miếu: sáng nhất, là cát tinh sẽ cực cát, là hung tinh sẽ thể hiện mặt tốt.
Vượng: độ sáng kém hơn miếu, là cát tinh sẽ đại cát, là hung tinh sẽ trừ bỏ được hung khí, có thể sẽ hiện điềm tốt.
Đắc địa: độ sáng kém hơn vượng, là cát tinh vẫn là cát, là hung tinh sẽ không hung.
Lợi ích: vẫn là sao sáng, là cát tinh vẫn cát, là hung tinh sẽ có chút ít vẻ hung.
Bình hòa: Độ sáng yếu, là cát tinh sẽ có chút ít cát, là hung tinh sẽ bắt đầu hung.
Không đắc địa: độ sáng mờ, là cát tinh sẽ không có sức, là hung tinh sẽ khá hung.
Hãm: độ sáng rất mờ, là cát tinh sẽ thể hiện mặt trái hoặc vô dụng, là hung tinh sẽ cực hung.

Sao Ất

- Hệ thống sao Ất gồm các cặp sao đi đôi với nhau, tổng cộng gồm 31 ngôi sao, trong đó có 16 cát tinh và 15 hung tinh. 16 cát tinh gồm: Hồng Loan, Thiên Hỉ, Tam Thai, Bát Tọa, Thai Phụ, Phong Cáo, Giải Thần, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Tọa, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Quan, Thiên Phúc, Long Trì, Phượng Các. Và 15 hung tinh gồm: Thiên Hình, Thiên Diêu, Âm Sát, Thiên Thương, Thiên Sứ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Thiên Nguyệt, Cô Thần, Quả Tú, Phi Liêm, Phá Toái, Thiên Không, Hoa Cái, Uy Trì.

Sao Bính

- Hệ thống sao Bính gồm 26 ngôi sao, trong đó có 12 cát tinh là: Trường Sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Thai, Dưỡng, Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tướng Quân, Tấu Thư, Hỉ Thần; Và 14 hung tinh: Mộc Dục, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Tiểu Hao, Đại Hao, Phi Liêm, Bệnh Phù, Phục Binh, Quan Phủ, Triệt Không, Tuần Không.

Sao Đinh

- Gồm 7 ngôi sao, là sao lưu niên. Trong đó có 5 cát tinh: Tướng tinh, Phàn An, Tuế Dịch, Long Đức, Thiên Đức và 2 hung tinh là Hoa Cái, Tuế Kiện.

Sao Mậu

- Hệ thống sao Mậu gồm 17 ngôi sao lưu niên: Tức Thần, Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Hàm Trì, Nguyệt Sát, Vong Thần, Hối Khí, Tang Môn, Quán Sách, Quan Phù, Tiểu Hao, Đại Hao, Bạch Hổ, Điếu Khách, Bệnh phù, đều là hung tinh.

Bản cung (bản phương)

- Bản cung tức cung chủ sự, hay còn gọi là bản phương. 12 cung trong lá số mỗi cung chủ về 1 sự việc khác nhau. Nếu xem vận mệnh cả đời thì lấy cung Mệnh làm bản cung; Nếu xem về sự nghiệp thì lấy cung Quan Lộc làm bản cung… Ngoài ra các cung đai hạn, tiểu hạn, lưu niên đểu được coi là bản cung khi xem về đại hạn, tiểu hạn, lưu niên.

Cung đối (cung đối diện)

- Là cung nằm ở vị trí đối diện với bản cung, tầm quan trọng chỉ đứng sau bản cung, có ảnh hưởng không nhỏ đến bản cung.

Tam phương tứ chính

- “Tam phương” là những cung có quan hệ tam hợp Địa chi với bản cung. Các chi tam hợp gồm: Dần Ngọ Tuất; Tỵ Dậu Sửu; Thân Tí Thìn; Hợi Mão Mùi.
Ví dụ: cung Mệnh tại Dần thì cung tam phương với bản cung là Ngọ Tuất
- “Tứ chính” là cung tam phương cộng thêm cung đối sẽ hình thành “tứ chính”

Hiệp trợ và ức hiếp

- Cát tinh nhập cung tam hợp mà hội chiếu gọi là hiệp trợ.
- Hung tinh nhập cung tam hợp mà hội chiếu gọi là ức hiếp.

Lân cung (cung kế bên)

- 2 cung liền kề 2 bên bản cung được gọi là lân cung. Tuy mức ảnh hưởng không bằng Tam phương, Tứ chính nhưng đối với 1 số cặp sao vẫn có tác dụng tốt xấu khá quan trọng.

Phò trợ và Kìm kẹp - Tọa và Cứ - Chầu và Xung

- Nếu 2 cát tinh rơi vào 2 cung kề bên gọi là Phò trợ ngược lại là kìm kẹp.
- Cát tinh nhập bản cung gọi là Tọa. Hung tinh nhập bản cung gọi là Cứ.
- Cát tinh nằm cung đối diện là Chầu. Hung tinh nằm cung đối diện là Xung.

Thiên La, Địa Võng

- Trong một lá số, cung Thìn là Thiên La, cung Tuất là Địa Võng, chủ về nguy khốn, khó khăn. Hai cung Thìn, Tuất còn được gọi chung là Khôi Cương, Thìn là Thiên Cương, Tuất làm Hà Khôi, là nơi âm dương tuyệt diệt.